Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

Lịch Giúp Lễ - Tuần 2 - Tháng 12/2010

Phân Công Giúp Lễ
Tuần II -
Tháng
12/2010
(từ ngày 05/12 – 11/12)

TRONG TUN

Thứ

Lễ 1 (5h00)

Lễ 2 (17g30)

2

Đ.Thanh - Phong

Tuấn – Hoàng©

3

Hoàng© - Vỹ

Hoàng(B) - Lâm

4

Triết Quốc

Tịnh – Lâm – Hoàng© - Hoàng(B)

5

Bảo Hoàng(B)

Thắng – Quốc

6

Tâm – Tuấn

Phong – Tịnh

7

Khanh – Hoàng(A)

Huy - Thằng – Hoàng© - Quốc


CHÚA NHẬT

Lễ 1 – 5g00

Thắng – Triết – Khanh – Hoàng(A)

Lễ 2 7g00

Đ.ThanhPhong – Tuấn – Tịnh

Lễ 3 – 16g00

Phong – BảoD.ThanhHuy

Lễ 4 – 17g30

Hoàng(B) – LâmQuốc – Thắng

CHẦU THÁNH THỂ

Ngày


LS

Phụ

09/12


Lễ sinh giúp lễ phụ trách

A.Hiếu


* Chầu thứ 5 & thứ 6 đầu tháng, và các ngày thứ 5 trong tuần. Chầu Thánh Thể sau thánh lễ chiều
17h30

Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Xin lỗi quý độc giả vì trang web tạm nghỉ một thời gian qua.

Vì người quản trị trang web có nhiều công việc nên thời gian qua không đưa tin lên trang web được mong quý vị, các em lễ sinh hết sức thông cảm.
Thời gian tới tôi sẽ post bài thường xuyên hơn.
Xin cám ơn các bạn đã giành thời gian quan tâm tới trang web này.
Xin chúc quý vị và các bạn có nhiều ơn lành Chúa ban.

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

PHÂN CÔNG GIÚP LỄ
Tuần I - Tháng 10/2010
(từ ngày 22/10 – 28/10)

TRONG TUẦN

Thứ

Lễ 1 (5g00)

Lễ 2 (17g30)

2

Nhật Hoàng( C)

Tuấn – Bảo

3

Nhật Hoàng( C)

TâmTịnh

4

Triết – Quốc

Tịnh - Tín

5

Khanh – A.Hiếu

Thắng - Quốc

6

Tín Tuấn

Hoàng( B) Bảo

7

Hoàng ( C) – Đ.Thanh

Thắng – Tuấn – Tâm – Quốc

CHÚA NHẬT

Lễ 1 – 5g00

Thắng – Triết – Khanh – Hoàng(A)

Lễ 2 – 7g00

Tín – Hoàng (B ) – Nhật – Tịnh

Lễ 3 – 16g00

Hoàng (C ) – Đ.Thanh – Tâm – Bảo

Lễ 4 – 17h30

Tuấn – Tín – D.Thanh – Hoàng(C)

CHẦU THÁNH THỂ

Ngày

LS

Phụ

26/10/2010

Thắng - Quốc

A.Hiếu

27/10/2010

Hoàng( B) Bảo

………


* Chầu thứ 5 & thứ 6 đầu tháng, và các ngày thứ 5 trong tuần. Chầu Thánh Thể sau thánh lễ chiều 17
g30

* Có thể xem bảng phân công trên website http://www.lesinhtmt.blogspot.com

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Vấn Đề Nữ Linh Mục



Vào năm 2002, có bảy nữ nhân được phong chức linh mục Công Giáo ở Austria. Từ đó đến nay đã có khoảng 100 nữ nhân trên thế giới tuyên bố mình là linh mục Công Giáo, trong số đó 80 bà là người Mỹ (Time, no. 13, Sept. 27, 2010). Tin nổi bật hơn cả, trong tháng Năm vừa qua, cô Longhitano đến Rome để nhận chức linh mục. Một giám mục Anh Giáo (Anglican Church) phong chức cho cô. Thánh lễ qui tụ gần 300 người tham dự. Longhitano tuyên bố, cô chọn Rome vì đó là kinh đô Công Giáo. Cô muốn Giáo Hoàng nghe và thấy những gì đang xảy ra (New Yourk Time, Sept. 23, 2010). Nhóm ủng hộ phong trào linh mục phụ nữ cho biết cứ đà này, họ sẽ có nữ giám mục Công Giáo. Từ đó họ sẽ tự quyền phong chức linh mục cho nữ nhân mà không cần nhờ giám mục của những giáo phái khác. Hiện tại, mỗi Chủ Nhật, nữ linh mục cử hành thánh lễ tại tư gia hay tại một nhà thờ Tin Lành thuê mướn nào đó.

Ngay sau biến cố Longhitano, ngày 15 tháng Bảy, 2010 Tòa Thánh Vatican chính thức đưa ra bản kết án những bà tự nhận là linh mục là họ đã phạm tội trọng (delictum gravius) và bị rút phép thông công. Linh mục Federico Lombardi, phát ngôn viên Tòa thánh Vatican phân tích rằng, phong chức linh mục cho phụ nữ là mắc tội nghịch với phép bí tích (a crime against sacraments), tức là những phép do chính Chúa Giêsu thành lập để ban ân sủng.

Riêng trong nội bộ Anh Giáo, mặc dù họ đã bắt đầu truyền chức linh mục cho nữ giới từ năm 1992, nhưng việc đó chưa được nhất trí. Đã có khoảng 100 linh mục và 3 giám mục phản đối. Các vị này đang tiếp xúc với Tòa Thánh Rôma để xin trở thành tín đồ Công Giáo Rôma. Khi họ chuyển đạo, họ sẽ kéo theo nhiều con chiên theo họ. Ngoài ra một số các vị phản đối khác tuy vẫn trung thành với Anh giáo nhưng đã lên tiếng cảnh cáo rằng, nếu việc phong chức cho nữ linh mục không được xét lại, họ có thể tạo ra cuộc ly khai (Telegraph, July, 2010).

Ba điểm chính của thần học linh mục phụ nữ

Phong trào linh mục phụ nữ (womenpriests) bắt nguồn từ Âu Châu trong năm 2002 với một số nhà nữ thần học Đức, trong số đó có vài vị nữ tu và linh mục John Wijngaard, giáo sư thần học. Riêng tại nước Mỹ, phong trào này được kích đông thêm khi có cuộc khủng hoảng về lạm dụng tình dục của các tu sĩ nam và hiện trạng thiếu hụt trầm trọng các linh mục. Tháng năm vừa qua hai cơ quan truyền thông New York Time và CBS đã làm cuộc thăm dò tổng quát. Ho cho biết 59% giáo dân Mỹ chấp nhận ý kiến nữ linh mục.

Có ba điểm chính trong hệ thống tư tưởng nữ linh mục. Điểm thứ nhất là vị thế của Mẹ Maria, của thánh Martha, và thánh Mađalêna trong giáo hội sơ khai. Qua sự liên hệ mật thiết giữa Đức Giêsu và các thánh nữ ấy họ biện luận rằng Mẹ Maria và thánh Mađalena là Tông Đồ, là linh mục, và là Giám Mục của Giáo hội sơ khai. Qua đó họ cho rằng nữ linh mục có nguồn gốc tông truyền từ Chúa Giêsu.

Điểm thứ hai, nhóm linh muc phụ nữ cho rằng Vatican đã kỳ thị phái tính. Họ cho hệ thống quyền hành hiện tại có tính cách bảo thủ nam phái đàn áp nữ giới. Một dạng áp chế bất công lỗi thời của những thế kỷ cũ kỹ. Họ trưng dẫn những đoạn kinh thánh để chứng minh sự kỳ thị phụ nữ. Chẳng hạn khi thánh Phaolô nói, “Tôi không cho phép đàn bà giảng dậy” (1Tim 2:11-15) hay “Phụ nữ phải làm thinh trong các buổi họp” (1Cor 14:34-35).

Điểm thứ ba, những người phản kháng vin vào câu nói của Đức Giêsu “không được gọi một phàm nhân nào là cha”. Cha là danh xưng dành riêng để gọi Thiên Chúa. Như vậy danh xưng cha (một dấu chỉ nam giới) dùng để chỉ linh mục đã phạm luật cho chính Đức Giêsu đặt ra. Giáo lý “chỉ nam nhân mới có thể là linh mục” không có nền tảng Phúc Âm nhưng đầy sắc thái kỳ thị phái tính.

Phụ nữ không thể là linh mục

Thần học có ba điểm để giải thích vấn để linh mục là người nam. Thứ nhất, nam và nữ bình đẳng nhưng có ơn gọi khác nhau. Thiên Chúa tạo ra nữ nhân là mẹ và nam nhân là cha. Không chức vụ nào có giá trị hơn hay kém hơn. Cả hai đều rất quan trọng và bổ tức cho nhau.

Thứ hai, chức linh mục là một bí tích. Chẳng có người nam hay người nữ nào xứng đáng được làm linh mục. Sở dĩ người nam được thụ phong chức linh mục vì Chúa Giêsu ban ơn cho như vậy. Giá trị của ngưòi được lãnh chức linh mục cũng không phải vì cá nhân đó tài giỏi hay xứng đáng ở một điểm nào đó, nhưng chỉ vì cá nhân đó được thông phần thiên chức linh mục của Chúa Giêsu.

Thứ ba, theo mô thức gia đình, Giáo Hội là mẹ và linh mục là cha. Có rất nhiều dẫn chứng trong Kinh Thánh cho biết biểu tượng Giáo Hội là cô dâu và Đức Giêsu là chàng rể. Vì linh mục liên kết với Đức Giêsu nên linh mục phải là chàng rể (tức là nam nhân) trong khi Giáo Hội là cô dâu.

Chiếu theo Thánh Kinh, trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu phong chức linh mục cho 12 môn đệ của Người. Trong số đó không có một người nào là phụ nữ, mặc dù lúc đó có mặt Đức Mẹ Maria là đấng cao trọng hơn hết và cũng có nhiều nữ môn đệ theo Người. Như vậy Chúa Giêsu đã chọn 12 nam nhân để thành lập hàng giáo phẩm. Việc thành lập Giáo Hội có giá trị vượt thời gian, Đức Giêsu không bị lệ thuộc vào những ràng buộc của định chế văn hoá xã hội nhất thời nào. Chúng ta chỉ có thể tin rằng việc Người làm hẳn phải có lý do. Cái lý do ấy hội thánh không có tư cách để sửa đổi. Khi Juđa phản bội Chúa và tự tử, các Tông Đồ cũng chọn một nam nhân khác để thay thế. Rồi chính mỗi vị Tông Đồ cũng chọn người kế vị tiếp nối sứ mạng của mình bằng một nam nhân. Giáo Hội bị ràng buộc với sự lựa chọn của Chúa và các Tông Đồ, vì đó là dấu chỉ của ân sủng. Tuân theo truyền thống ấy Giáo Hội quy định chỉ người nam đã nhận phép rửa tội mới được nhận lãnh bí tích Truyền Chức linh mục. Giáo Hội không thể phong chức cho người nữ (GLCG 1577).

Vấn đề chọn linh mục là người nam không thể coi đó là vấn đề trong nam khinh nữ. Chức linh mục không phải là một quyền lợi nên đòi phải được chia bình đẳng cho nam và nữ. Đó là một vị thế phục vụ không phải là một quyền lợi. Có một mâu thuẫn rất lớn khi nhóm nữ linh mục cho rằng Đức Giêsu truyền chức linh mục cho 12 nam nhân chỉ là phản ảnh sắc thái văn hóa tương đối vào thời ấy. Trong khi đó họ lại cho những lời khuyên của thánh Phaolô cấm đàn bà nói và giảng kinh (xem trích dẫn trên) là tuyệt đối khinh thị nữ giới. Ngược lại phép truyền chức linh mục do Đức Giêsu lập ra có giá trị tuyệt đối, còn lời nhắn nhủ của thánh Phaolô chỉ có giá trị tương đối phản ảnh quan niệm xã hội cục bộ nhất thời. Chính Giáo Hội cũng không chấp nhận quan niệm kỳ thị này. Sử dụng như bằng cứ ấy để kết án Giáo Hội hiện tại kỳ thị là ấu trĩ.

Danh xưng cha của linh mục

Theo truyền thống, “cha” là người đứng đầu trong gia đình. Tiếng “cha” nêu ra trách vụ hướng dẫn con cái trong liên hệ gia đình. “Cha” không phải là một chức vị xã hội.

Nhóm nữ linh mục vin vào câu nói của Đức Giêsu cấm gọi một phàm nhân nào khác là cha, vì Cha là danh xưng dành riêng để gọi Thiên Chúa. Trên thực tế họ đã cắt câu nói của Người ra khỏi mạch ý của Phúc Âm. Vào thời gian đó, nhóm Ký Lục, Pharisêu, và Sađốc đều được gọi là cha. Họ thường lạm dụng danh xưng cha để tự phong chức vụ danh tước cho mình. Đức Giêsu đã ngăn cấm lối nhận diện sai lầm ấy vì Người thấy rõ họ không xứng đáng. Đức Giêsu dậy chúng ta đừng lầm lẫn chức vị “cha” trong vị thế xã hội với vị thế Thiên Chúa (cũng gọi là Cha) là một người Cha trong gia đình. Đức Giêsu không cấm chúng ta gọi bố mình là cha. Chính Đức Giêsu vẫn gọi thánh Giuse là cha. Người cũng nói Abraham là cha của dân Israel.

Thánh Phaolô giải thích rõ danh xưng “cha” trong Kitô giáo là người hướng dẫn tâm linh như một ông bố trong gia đình. Cha là một chức giáo vụ. Với nghĩa đó thánh đã xưng mình là cha với dân Côrintô (1 Corino 4:15), là cha của nhóm tín hữu Do thái (Heb 12:5-7, 11-13), là cha của thánh Timôthy (1 Tim 1:18), và là cha của thánh Ônêximô (Phi 9-10, 12-17). Chúng ta đều biết thánh Phaolô không thể dùng danh xưng cha trong liên hệ chức vị xã hội. Danh xưng cha của linh mục Công Giáo mang ý nghĩa ấy, tức là người chăn dắt (mục) tâm linh (linh). Hiển nhiên trong gia đình, chỉ người con trai mới có thể là cha.

Khi nhập thế, Ngôi Lời đã chọn là một người nam. Chúng ta không có quyền đặt câu hỏi tại sao về sự lựa chọn này. Chúng ta chỉ có thể ghi nhận. Thần học nêu rõ rằng linh mục là Nhân Thể Hóa Đấng Kitô (In Persona Christi) hay Chúa kitô khác (another Christ, Giáo Hoàng Pius XI) là hình ảnh sống của Chúa Cha (typos tou Patros, Ignatius của Antioch ), là người thay mặt Đấng Kitô (thánh Cyprian). Chúa Kitô kết hôn với Giáo Hội, mà linh mục là In Persona Christi, nên các tín hữu phải gọi linh mục là cha. Chức linh mục đồng hóa với Đức Kitô Tư Tế và hành xử như chính Đức Kitô (Piô XII, thông điệp “Đấng Trung Gian Của Thiên Chúa”; GLCG 1547-1563). Vì vậy khi một người muốn trở nên hóa thân của Đức Giêsu thì cũng phải là một người nam, vì Đức Giêsu là một người nam.

Tóm lại, điều thật sự mà người ta có thể thấy từ nhóm chủ trương linh mục phụ nữ là họ muốn cải tổ hệ thống giáo quyền. Họ cho mô thức Giáo hội hiện tại là hệ thống toàn nam (all-malesystem) cần phải đổi thành hệ thống dân chủ. Họ khảng định không muốn qua giáo phái Episcopal, nơi chấp nhận nữ linh mục. Họ muốn là nữ linh mục Công Giáo. Họ không bỏ Giáo Hội nhưng muốn cải tổ Giáo Hội. Cuộc tranh đấu của họ càng ngày càng nhuộm màu chính trị của cánh nữ quyền. Nó có tính cách quá đáng vì đã lợi dụng mục vụ tôn giáo trong mục tiêu tranh đấu phái tính. Câu tuyên xưng “Nhân danh Thiên Chúa Cha và Mẹ chúng ta” (In the name of God our Father and Mother) đã làm nổi bật màu sắc chính trị hơn là giáo lý tôn giáo. Tổng Giám Mục Donald W. Wuert, Washington, Chủ Tịch Uy Ban Giáo Lý của Hội Đồng Giám Mục Hoa kỳ tuyên bố, “Công Giáo qua giáo huấn lâu dài và không đổi, từ nguyên khởi chỉ truyền chức linh mục cho người nam, điều này không thể thay đổi bất chấp thời gian có thay đổi.”

Đỗ Trân Duy

Nguoitinhuu.com

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

Ngày 04 tháng 10 - Lễ Nhớ Thánh Phansico Assise

Thánh Phanxicô Assise Khó Khăn, Lập Dòng (1182-1226)



Thánh Phanxicô Khó Khăn sinh tại Assise khoảng năm 1182. Cha ngài, ông Bênađô là một thương gia tơ sợi nổi tiếng. Mẹ ngài là bà Pica, một người đạo đức, đã hun đúc ngài trở thành một vị thánh thời danh.

Lúc bấy giờ có cuộc nổi loạn của đám lê dân chống lại những người quý tộc. Ngài bị bắt và bị cầm tù gần một năm. Trong thời gian đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng; sau khi khỏi, Chúa đã cảm hóa ngài với câu: "Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời". Ngài quyết định từ bỏ mọi sự, sống đời nghèo khó năm 1206. Bị cha già hết sức phản đối, nhưng dù thương cha, ngài cũng không dám làm ngược lại thánh ý Chúa. Ngài phân phát hết của cải, chỉ gữ lại chiếc choàng cũ rồi đi rao giảng Tin Mừng.

Trong cảnh sống cơ cực này, được Chúa thúc đẩy, ngài thành lập hội dòng Anh Em Hèn Mọn. Sau đó, ngài lui về Alverne, một nơi cô tịch phía Bắc Assise để suy niệm và ăn chay đền tội. Trong lúc xuất thần, ngài nhìn thấy Thiên Thần Sêraphim và một ảnh chuộc tội. Khi tỉnh lại, lạ lùng thay, chính trên thân thể ngài, Chúa đã in năm dấu thánh cho người Chúa yêu (1224).

Hai năm sau, ngài lâm bệnh. Trước giờ chết, ngài khuyên bảo anh em hãy cố giữ tinh thần nghèo khó và đức tin sâu xa vào Giáo Hội Chúa. Ngài nhắm mắt lìa trần ngày 04/10/1226.

Dưới triều Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô, ngài được tôn lên bậc Hiển Thánh. Nhìn tấm gương nghèo khó thương người, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta biết lướt thắng mọi vinh hoa phú quý để tăng lòng mến Chúa và ham chuộng tinh thần Phúc Âm.

Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt
Vietnamese Missionaries in Asia


THÁNH PHANXICÔ ASSISI VÀ TÌNH YÊU THẬP GIÁ
VietCatholic News (19 Mar 2009 22:41)

Người Kitô hữu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có thói quen đi đàng Thánh Giá vào các mùa Phụng vụ trong năm, nhất là Mùa Chay, nhằm suy niệm mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Giêsu. Qua việc đạo đức bình dân này, người ta muốn thông phần vào các đau khổ mà Chúa Giêsu xưa đã chịu để cứu chuộc muôn người; đồng thời, họ cũng cảm tạ tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với con người. Và thập giá là bằng chứng của tình yêu cao cả ấy.

Kinh nghiệm của thánh Phanxicô về tình yêu thập giá Chúa Kitô là một bài học quý giá, giúp chúng ta sống phong phú hơn tâm tình của Mùa Chay thánh và hành trình bước theo Đức Kitô trong cuộc sống lữ hành.

Người ta vẫn thường cho rằng việc sùng kính Thánh Giá qua việc Đi Đàng Thánh Giá bắt nguồn từ thánh Phanxicô Assisi, đã được phong trào Phan Sinh về sau phổ biến rộng rãi và tồn tại đến hôm nay. Chúng ta không bận tâm đến tính xác thực của nhận định này, nhưng khi chúng ta chiêm ngắm cuộc đời của thánh Phanxiaô, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, mầu nhiệm thập giá đã gắn bó thân thiết với ngài trong suốt hành trình hoán cải và bước theo Chúa Kitô.

Thánh giá xuất hiện vào lúc khởi đầu cuộc đời hoán cải của thánh Phanxicô là giấc mơ về những vũ khí bằng thánh giá ở Spô-lê-tô, khi ngài đang trên hành trình tìm mộng công danh như bao chàng trai khác, trong tư cách là một hiệp sĩ. Kể từ đó, ngài chọn con đường thập giá và nó đã theo ngài dọc suốt cuộc đời. Vào năm cuối đời, thánh Phanxicô được in năm dấu thánh trên thân thân ngài, ở đỉnh núi Alverna.

Chuyện “Những Bông Hoa Nhỏ” kể lại rằng: “Sáng tinh sương ngày 14 tháng 9 năm 1224, tức là ngày lễ Suy tôn Thánh giá, trên đỉnh Alverna đã xảy ra một phép lạ tân kỳ. Lúc mặt trời gần dãi lên nền trời những tia sáng vàng tươi, Phanxicô quì tựa lưng vào một tảng đá, hướng về phương đông, mắt tuôn đôi hàng lệ, ngài than thở: “Lạy Chúa, trước lúc qua khỏi đời này, con chỉ xin Chúa ban cho con hai ơn: một là, xin Chúa cho tâm hồn cũng như thể xác con cảm thông hết nỗi đau đến thê thảm Chúa chịu trong giờ tử nạn; hai là, xưa kia khi Chúa tử nạn, Chúa yêu loài người tội lỗi chúng con đến độ nào, thì xin cho lòng con cũng được yêu Chúa đến độ ấy”. Bỗng vụt như làn chớp, một thiên thần Chí ái tự trời bay xuống. Sáu cánh chói loà. Hai cánh phủ đầu, hai cánh dương bay và hai cánh khép che toàn thân. Thiên thần hiện xuống đứng trên phiến đá, rõ hình một người chịu đóng đinh vào thánh giá. Thiên thần ấy chính là Chúa Giêsu tử nạn, mặc hình người hiện đến với Phanxicô. Ngài nhìn Phanxicô, đôi mắt như thiết tha, như thiêu cháy cả tâm hồn rồi vụt biến. Phanxicô, quỵ xuống, ngất đi. Khi bừng tỉnh dậy, ngài thấy tay chân đã bị đinh đóng thâu qua. Đầu đinh tròn và đen nổi rõ giữa lòng bàn tay và trên mặt bàn chân. Đinh đóng thâu qua tay chân, mũi đinh quắp lại trên lưng bàn tay và giữa gan bàn chân. Ngực bên phải, cạnh trái tim, dấu một lưỡi đòng đâm qua còn nguyên nét, máu chảy rìn rịt thấm ướt đến tận lớp áo ngoài”.

Có thể nói, cả cuộc đời thánh Phanxicô cô là một hành trình vác thập giá theo chân Chúa “Ai muốn theo ta thì phải từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo ta”. Và ngài đã được diễm phúc đón nhận năm dấu thánh như Chúa Giêsu năm xưa, nghĩa là được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Đó chính là đỉnh cao của tình yêu thập giá của thánh nhân với Đức Kitô chịu đóng đinh.

Một sử gia Phan Sinh đã nhận định rất hay về mối tình thập giá của ngài rằng: “Thánh Phanxicô ca ngợi không những cuộc khổ nạn của Chúa với tâm tình tri ân, nhưng là tất cả công trình cứu chuộc của Đức Kitô, trong đó tình yêu của Thiên Chúa đổ xuống trên chúng ta một cách thật rõ ràng. Đứng trước tình yêu bao la đó của Thiên Chúa, Phanxicô đã đáp trả bằng một tình yêu nóng bỏng và ngọt ngào trong trái tim người”.

Thật vậy, Thánh Giá mà chúng ta tưởng niệm trong phụng vụ, nhất là phụng vụ Mùa Chay như muốn minh chứng một chân lý cao cả: “Vì yêu thương chúng ta, Chúa Kitô đã không ngần ngại một hành vi nào, cho dù phải đổ máu và chế nhục nhã trên thập tự”. Chính vì thế, tình yêu của Thiên Chúa mới trở nên trọn vẹn đối với chúng ta. Một tình yêu mà chúng ta không thể hiểu thấu bằng lý trí, nhưng bằng cảm kích của con tim trong đời sống tâm linh. Điều này đã thể hiện trên cuộc đời và con người của thánh Phanxicô. Ngài đã hiểu, đã cảm nếm, và đã sống mầu nhiệm Thánh Giá ấy bằng một tình yêu cháy bỏng và thẳm sâu.

Hơn hai ngàn năm qua, người Kitô hữu, môn đệ của Chúa Kitô trong hành trình tiến về vĩnh cửu, không có con đường nào khác con đường thập giá. Nhưng con đường thập giá là con đường khó đi, gian khổ, khiến cho bao người phải ngập ngừng lui bước. Đúng vậy! nhưng qua cái chết của Chúa Giêsu, một luồng ánh sáng đã chiếu dọi vào từng nỗi khổ đau của con người và cho đau khổ một ý nghĩa mới: “Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2, 18). Thập Giá Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta. Từ nay thập giá không còn là một chướng ngại trong cuộc sống, nhưng là con đường tình yêu dẫn đến sự sống đích thực, nếu chúng ta dám hy sinh, chấp nhận mọi khổ đau trong cuộc sống với tâm tình yêu thương và vâng phục.

Trong hành trình đó, gương của thánh Phanxicô vẫn luôn soi đường chỉ lối cho chúng ta tiếp tục cuộc hành trình,với niền tin yêu hy vọng được trở nên thủy chung với mối tình thập giá Chúa Kitô.

Lạy thánh Phanxicô, xin ngài ghi sâu trong lòng chúng con những nỗi thống khổ của Chúa Giê-su, đặt vào trong sâu thăm con tim chúng con tình yếu nóng bỏng và ngọt ngài của Đức Kitô, để giúp chúng con yêu mến Ngài hơn, dâng hiến đời sống chúng con cho Ngài và để chúng con được cùng Ngài và anh chị em chúng con dự phần vào tình yêu thập giá của Ngài.
Quang Huyền, OFM